DE CUONG HKI

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Chí Thu (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:12' 18-07-2009
Dung lượng: 271.5 KB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Trần Chí Thu (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:12' 18-07-2009
Dung lượng: 271.5 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG THPT Ngô Gia Tự
ÔN TẬP HOC KỲ I MÔN : TIN HỌC LỚP 10
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản của tin học.
Đọc sách giáo khoa để hiểu và đúc kết được những kiến thức trọng tâm, học nội dung trọng tâm ghi chép được trong vở học và phần “tóm tắt lý thuyết” trong sách bài tập. học thuộc lòng các thuật toán đã học, từ ý tưởng thuật toán biết thiết kế được một thuật toán theo yêu cầu.
Soạn tóm tắt các chủ đề, học thuộc các khái niệm đóng khung trong SGK: Tin học, thông tin, máy tính, bài toán và thuật toán, ngôn ngữ lập trình, giải bài toán trên máy tính, những ứng dụng của tin học, tin học và xã hội.
Chương 2: Hệ điều hành.
Hiểu hệ điều hành là gì? Biết các vai trò, chức năng và thành phần của hệ điều hành.
Hiểu về cơ chế hoạt động của hệ điều hành, về quản lý thông tin lưu trữ. Từ đó vận dụng làm quen và rèn luyện kỹ năng làm việc với hệ điều hành. Trong đó cần nắm vững và thực hiện thành thạo một số thao tác trên hệ điều hành đề hiểu thêm về hoạt động của máy tính.
Một số nguyên tắc và một số quy định chung khi làm việc với hệ điều hành, truy cập đến tệp, thư mục, chương trình.
Đánh dấu chọn nhận định đúng:
Sự hình thành và phát triển của tin học bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp.
Từ lâu, con người đã quan tâm đến thông tin, tuy nhiên chưa có tính hệ thống.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đang ở nền văn minh thông tin với công cụ lao động là máy tính điện tử.
Bên cạnh việc sáng tạo ra máy tính điện tử, con người cũng từng bước xây dự ngành khoa học tương ứng để đáp ứng những yêu cầu khai thác tài nguyên thông tin.
Tin học là một ngành khoa học có những đặc điểm tương tự như các ngành khoa học khác nhưng cũng có một số đặc thù riêng.
Tin học là ngành khoa học có các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng.
Tin học có nhiều ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội.
Học tin học là học cách xử lý thông tin chứ không phải học sử dụng máy tính hay dùng hệ điều hành.
Máy tính là công cụ lao động hỗ trợ cho con người trong việc xử lý thông tin một cách tự động, nhanh chóng và chính xác.
Tin học gắn liền với việc phát triển và sử dụng máy tính điện tử.
Thông tin là những hiểu biết về một thực thể nào đó.
Dữ liệu là thông tin được mã hóa và đưa vào máy tính.
Thông tin có thể đo được, bit là đơn vị nhỏ nhất để đo thông tin, bit là đại lượng chứa được một trong 2 giá trị: 0 hoặc 1 (đối với máy tính)
Trong tin học một sự kiện có hai trạng thái với khả năng xuất hiện như nhau thì được biểu diễn bằng ký hiệu 0 hoặc 1.
Thông tin tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: Hình ảnh, văn bản, âm thanh, sóng điện từ…
Phải mã hóa thông tin thành dãy bit vì máy tính chỉ xử lý được số nhị phân.
Để máy tính xử lý được thông tin dạng văn bản ta dùng bảng mã ASCII hoặc Unicode
Bảng mã ASCII chỉ mã hóa được 256 (28) ký tự, còn bảng mã Unicode mã hóa được 65536(216) ký tự.
Hệ đếm thường dùng trong tin học là hệ nhị phân và thập lục phân.
Biểu diễn số nguyên trong máy tính thường dùng bit cao nhất (bit 7) làm bit dấu.
Biểu diễn số thực trong máy tính dưới dạng (M(10(k với M là phần định trị và k là phần bậc.
Thông tin dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh và các dạng khác được gọi là thông tin phi số.
Hệ thống tin học gồm phần cứng, phần mềm và sự quản lý, điều khiển của con người.
Cấu trúc máy tính gồm các thiết bị: CPU, bộ nhớ ngoài, bộ nhớ trong, thiết bị vào và thiết bị ra.
Bộ xử lý trung tâm gồm bộ điều khiển (hướng dẫn các bộ phận làm việc), bộ số học và logic thực hiện các phép toán logic.
Bộ nhớ là nơi chứa dữ liệu, chương trình.
Bộ nhớ trong gồm Rom và Ram, Rom là bộ nhớ chỉ đọc chứa các chương trình hệ thống của hãng sản xuất, Ram là bộ nhớ có thể dọc, ghi lúc làm việc chứa các chương trình dữ liệu đang xử lý.
Máy tính thông dụng hiện nay dùng bộ nhớ Ram từ 128MB trở lên.
Bộ nhớ ngoài là các loại đĩa lưu trữ (đĩa mềm, đĩa
ÔN TẬP HOC KỲ I MÔN : TIN HỌC LỚP 10
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản của tin học.
Đọc sách giáo khoa để hiểu và đúc kết được những kiến thức trọng tâm, học nội dung trọng tâm ghi chép được trong vở học và phần “tóm tắt lý thuyết” trong sách bài tập. học thuộc lòng các thuật toán đã học, từ ý tưởng thuật toán biết thiết kế được một thuật toán theo yêu cầu.
Soạn tóm tắt các chủ đề, học thuộc các khái niệm đóng khung trong SGK: Tin học, thông tin, máy tính, bài toán và thuật toán, ngôn ngữ lập trình, giải bài toán trên máy tính, những ứng dụng của tin học, tin học và xã hội.
Chương 2: Hệ điều hành.
Hiểu hệ điều hành là gì? Biết các vai trò, chức năng và thành phần của hệ điều hành.
Hiểu về cơ chế hoạt động của hệ điều hành, về quản lý thông tin lưu trữ. Từ đó vận dụng làm quen và rèn luyện kỹ năng làm việc với hệ điều hành. Trong đó cần nắm vững và thực hiện thành thạo một số thao tác trên hệ điều hành đề hiểu thêm về hoạt động của máy tính.
Một số nguyên tắc và một số quy định chung khi làm việc với hệ điều hành, truy cập đến tệp, thư mục, chương trình.
Đánh dấu chọn nhận định đúng:
Sự hình thành và phát triển của tin học bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp.
Từ lâu, con người đã quan tâm đến thông tin, tuy nhiên chưa có tính hệ thống.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đang ở nền văn minh thông tin với công cụ lao động là máy tính điện tử.
Bên cạnh việc sáng tạo ra máy tính điện tử, con người cũng từng bước xây dự ngành khoa học tương ứng để đáp ứng những yêu cầu khai thác tài nguyên thông tin.
Tin học là một ngành khoa học có những đặc điểm tương tự như các ngành khoa học khác nhưng cũng có một số đặc thù riêng.
Tin học là ngành khoa học có các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng.
Tin học có nhiều ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội.
Học tin học là học cách xử lý thông tin chứ không phải học sử dụng máy tính hay dùng hệ điều hành.
Máy tính là công cụ lao động hỗ trợ cho con người trong việc xử lý thông tin một cách tự động, nhanh chóng và chính xác.
Tin học gắn liền với việc phát triển và sử dụng máy tính điện tử.
Thông tin là những hiểu biết về một thực thể nào đó.
Dữ liệu là thông tin được mã hóa và đưa vào máy tính.
Thông tin có thể đo được, bit là đơn vị nhỏ nhất để đo thông tin, bit là đại lượng chứa được một trong 2 giá trị: 0 hoặc 1 (đối với máy tính)
Trong tin học một sự kiện có hai trạng thái với khả năng xuất hiện như nhau thì được biểu diễn bằng ký hiệu 0 hoặc 1.
Thông tin tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: Hình ảnh, văn bản, âm thanh, sóng điện từ…
Phải mã hóa thông tin thành dãy bit vì máy tính chỉ xử lý được số nhị phân.
Để máy tính xử lý được thông tin dạng văn bản ta dùng bảng mã ASCII hoặc Unicode
Bảng mã ASCII chỉ mã hóa được 256 (28) ký tự, còn bảng mã Unicode mã hóa được 65536(216) ký tự.
Hệ đếm thường dùng trong tin học là hệ nhị phân và thập lục phân.
Biểu diễn số nguyên trong máy tính thường dùng bit cao nhất (bit 7) làm bit dấu.
Biểu diễn số thực trong máy tính dưới dạng (M(10(k với M là phần định trị và k là phần bậc.
Thông tin dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh và các dạng khác được gọi là thông tin phi số.
Hệ thống tin học gồm phần cứng, phần mềm và sự quản lý, điều khiển của con người.
Cấu trúc máy tính gồm các thiết bị: CPU, bộ nhớ ngoài, bộ nhớ trong, thiết bị vào và thiết bị ra.
Bộ xử lý trung tâm gồm bộ điều khiển (hướng dẫn các bộ phận làm việc), bộ số học và logic thực hiện các phép toán logic.
Bộ nhớ là nơi chứa dữ liệu, chương trình.
Bộ nhớ trong gồm Rom và Ram, Rom là bộ nhớ chỉ đọc chứa các chương trình hệ thống của hãng sản xuất, Ram là bộ nhớ có thể dọc, ghi lúc làm việc chứa các chương trình dữ liệu đang xử lý.
Máy tính thông dụng hiện nay dùng bộ nhớ Ram từ 128MB trở lên.
Bộ nhớ ngoài là các loại đĩa lưu trữ (đĩa mềm, đĩa
 








Các Ý Kiến